Giả mà thật, thật mà giả

Với rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ của thế kỷ 19, 20, nàng Mona Lisa – người mẫu được Leonardo da Vinci đưa vào bất tử trong tranh, là mẫu mực của sắc đẹp. Người ta khen khuôn mặt, đôi mắt, nụ cười. Có người còn khen cả cái lưng, hai bàn tay của nàng.

Với những người chẳng hiểu quái gì về sắc đẹp và nghệ thuật, như người đang kể chuyện mỗi tuần chẳng hạn, nàng Mona Lisa trong bức tranh hiện được trưng bày tại Viện Bảo tàng Louvre ở Paris chẳng mấy hấp dẫn. Nếu quan điểm thẩm mỹ của người bên Tây – từ thời Phục hưng đến mãi ngày nay là như thế thì rõ ràng là người đang kể câu chuyện này quá dốt vì chỉ thấy một người phụ nữ nhan sắc tầm thường, không có lông mày, con mắt lạc thần, má húp, thân hình chắc chắn là cũng không được thon thả gì cho lắm.

Nhưng đó là bức họa đắt giá nhất lịch sử loài người. Sách Kỷ lục Thế giới Guinness đã đặt Mona Lisa của Leonardo da Vinci lên hàng bức tranh có giá trị bảo hiểm cao nhất từ trước đến nay. Vào ngày 14 tháng 12 năm 1962, Mona Lisa được đánh giá 100 triệu Mỹ kim. Ở thời giá ngày nay, con số đó tương đương với khoảng 860 triệu.

Và có một điều rõ ràng là số người vừa dốt, vừa đui lại còn nghèo như người kể chuyện là thiểu số.

Bởi những thông tin, và truyền thuyết về nàng Mona Lisa hàng trăm năm nay vẫn “hot”, và những bức chân dung, cả giả lẫn thật của nàng vẫn đắt giá.

Một bức Mona Lisa giả, tức là sao chép, tiếng Anh gọi là “replica”, không phải đồ xịn do thiên tài toàn năng Leonardo da Vinci vẽ, đang được rao bán tại thủ đô ánh sáng, và cũng là một trung tâm nghệ thuật.

Việc bán bức tranh được giao Christie’s, nhà đấu giá cũng lừng danh gần bằng da Vinci, thực hiện.

Những nhà chuyên môn và người sành điệu cho rằng bức tranh này có thể được giá đến hơn 300 ngàn Euro – gần 370 ngàn đô la Mỹ, mặc dù đã được coi là đồ giả. Người ta tin rằng bức họa đó đã được một học trò nhiều thế hệ sau của da Vinci vẽ lại hồi thế kỷ 17.

Trong cái brochure quảng cáo cho món hàng trên mạng, nhà Chrtistie’s kể rằng vào năm 1953, nhà sưu tập, nhà buôn đồ cổ Raymond Hekking (1886-1977) đã mua được một bức Mona Lisa với giá 3 Bảng Anh, tại một tiệm bán đồ antique ở Paris. Khi ông mua, người bán cho rằng bức tranh là một bản sao, được vẽ ở thế kỷ 17, tức là hơn 200 năm sau ngày danh họa da Vinci đưa nàng Lisa Gherandini Giocondo lên tranh.

Không có tác phẩm nào của Leonardo mà người ta thèm muốn hơn Mona Lisa, bức tranh sơn dầu vẽ trên nền gỗ dương nhỏ xíu, cũ xì, được phục hồi nhiều lần, chỉ có diện tích 79cm x 47cm hiện nằm trong viện bảo tàng Louvre.

Trong lịch sử, nàng Mona Lisa đã bị cọp-pi rất nhiều lần – các họa sĩ vẽ lại bức tranh vì mê mẩn, để học tập, để bắt chước bậc thầy trong hội họa da Vinci. Những tay gian tà vẽ để làm giả, để bịp người. Đó là chưa kể những tranh sơn dầu sao chép để bán công khai, với xác nhận là sao chép, hoặc hình chụp, cho những người hâm mộ đem về treo ở trong nhà cho bảnh.

Năm 2019, dịp kỷ niệm 500 năm ngày Leonardo da Vinci qua đời, một bức sao – được vẽ hồi thế kỷ 17, cùng thời với bức Mona Lisa của Hekking, đã bán được đến 1.695.000 đô la Mỹ (1.195.000 bảng Anh) ở New York vào tháng 3. Một phiên bản khác được bán ở Paris vào tháng 11 năm 2019 với giá 552.500 Euro. Chưa hết, một bản nữa được nhà Christie’s ở Paris bán ra trong cùng năm đã được giá 162.500 Euro.

Và vì nhưng nỗ lực của ông Hekking cho đến khi chết để quả quyết rằng bức họa mà mình làm chủ (với giá bèo) là đồ xịn. Cuộc đời của nhà sưu tập này từ khi mua được bức tranh đã được tận hiến cho việc thuyết phục thế giới rằng bức tranh của ông là “chính hiệu bà lang Trọc”. Ông cũng quả quyết rằng bức tranh được trả lại cho Louvre không phải là tác phẩm thật và bảo tàng Louvre sẽ không thể chứng minh rằng bức tranh của họ là thứ thiệt.

Cái cớ để ông Hekking nhất định rằng bức tranh mà ông sở hữu mới là đồ thật là vụ bắt cóc nàng Mona Lisa, được mệnh danh là vụ trộm của thế kỷ 20.

Vụ trộm của thế kỷ: bắt cóc Mona Lisa

Đúng 100 năm trước đây, vào ngày 21 tháng 8 năm 1911, Vincenzo Peruggia- một họa sĩ và nhà trang trí người Ý, lúc đó là nhân viên của Louvre- chui từ một cái tủ trong Viện bảo tàng Louvre, nơi ông ta đã ẩn mình suốt đêm. Ông leo lên bệ, giải thoát nàng Mona Lisa đang bị nhốt trong cái khung xấu xí ở đó và cùng với nàng biến mất.

Phải đến 24 giờ sau mới có người nhận ra người đẹp của Leonardo da Vinci đã mất tích. Trong thời gian đó đã bị đóng cửa để bảo trì và mọi người đều nghĩ rằng ai đó chắc đã gỡ bức tranh ra để chụp hoặc làm sạch.

Cảnh sát Pháp đã lập tức in ra 6.500 bản chụp chân dung nàng để phân phát theo kiểu “bố cáo tìm người đẹp” trên đường phố Paris.

Vào cái thời đó, nàng Mona Lisa chưa được nhiều người biết như ngày nay. Danh tiếng của nàng chỉ loanh quanh ở Tây phương. Vụ trộm đã làm cho nàng nổi tiếng như cồn, nhờ phương tiện truyền thông – thời đó chính yếu là báo in. Tất cả các tờ báo lớn ở châu Âu đều đưa tin, và mọi bài báo đều, dĩ nhiên, có một tấm ảnh của bức tranh. Và thế là hàng triệu người, trước nay có thể chưa nhìn thấy, thậm chí chưa hề nghe nói đến bức tranh, đã một sớm một chiều trở thành chuyên gia về bức tranh bị đánh cắp của Leonardo.

Một trong những nghi phạm đầu tiên là Pablo Picasso. Ông họa sĩ này không liên quan gì đến tội ác nhưng vì quá sợ đã tức khắc tìm cách vứt bỏ một số bức tượng mình sở hữu vì phát giác ra chúng cũng là đồ đã bị chôm từ Louvre. Ông bị theo dõi khá lâu- chắc chắn nhà họa sĩ lớn này phải muốn có một bức tranh tuyệt vời. Thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire (được người dốt như người kể chuyện biết đến nhờ bản nhạc Mùa Thu Chết của cố nhạc sĩ Phạm Duy) cũng bị hỏi cung.

Sau hai năm, cuộc điều tra cạn nguồn manh mối.

Người ta đồn loạn xạ là bức tranh đã được đưa sang Thụy Sĩ hoặc Á căn đình, hoặc ở New York, thậm chí được giấu trong một căn phòng bí mật ở biệt thự của nhà triệu phú ngành tài chính ngân hàng JP Morgan (ngày đó, triệu phú giàu bằng tỷ phú thời nay). Trên thực tế, người đẹp vẫn bị giam ở Paris.

Thoạt đầu, Peruggia cất giữ nàng trong một cái tủ, rồi sau đó giấu dưới một cái lò trong nhà bếp, và cuối cùng là trong một cái rương có đáy giả. Đã có lúc, tên trộm khá tự mãn, dám đặt một tấm bưu thiếp in hình Mona Lisa lên lò sưởi. Nhưng có lẽ nỗi tự hào này không được dài lâu. Peruggia bắt đầu thấy khó sống với nàng, nay đã thành của nợ, và tìm cách biến nàng thành tiền. Anh ta liên lạc với Alfred Geri, một agent ở Florentine, hy vọng Geri sẽ giúp giải quyết con tin khó bán này. Trong bức thư gửi Geri, anh khai và ký tên mình là Leonardo Vincenzo. Vào tháng 12 năm 1913, Vincenzo Peruggia đến Florence để gặp Perruggia.

Geri đã giả vờ thỏa thuận, thậm chí còn đã đưa giám đốc của Nhà Triển lãm Uffizi (Florence, Ý) đến cuộc gặp mặt với Peruggia tại khách sạn Albergo Tripoli (khách sạn này trúng mối, sau đó đã nhanh chóng được đổi tên thành Hotel La Gioconda). Bức tranh đã được lấy ra khỏi cái rương có đáy giả. Khi xác định được người đẹp, Geri lập tức gọi điện thoại cho cảnh sát.

Khi ra tòa, Peruggia khai rằng động cơ thúc đẩy anh ta bắt cóc Mona Lisa không phải là tiền. Anh nói đây là một hành động ái quốc, “để trả nàng về quê hương, trả thù cho hành động cướp bóc các tác phẩm nghệ thuật từ Ý của Napoléon”.

Tuyên bố của Peruggia tại phiên tòa có thể làm báo chí Ý xúc động, nhưng bồi thẩm đoàn thì không. Perruggia bị kết án 12 tháng tù vào năm 1914.

Về sau, Vincenzio Peruggia đã trở lại Pháp và mở một cửa hàng tranh ở Haute-Savoie. Nàng Mona Lisa đã được đưa đi một vòng quanh nước Ý trước khi cũng quay trở lại Pháp để nhốt trong cái hộp kính. Để được diện kiến nàng, người hâm mộ phải xếp hàng đi loanh quanh trong một mê lộ kiểu như an ninh ở phi trường trước khi có diễm phúc ngằm nàng trong một vài phút rồi bị đẩy đi lấy chỗ cho người sau.

Nhà báo Laura Cummings của tờ The Guardian viết rằng tác dụng thực sự của vụ trộm nghệ thuật nổi tiếng nhất này là hình ảnh của nàng Mona Lisa đã đến được và in vào đầu mọi người khắp năm châu bốn biển nhờ được in đi in lại hàng triệu lần và nhờ sức mạnh của truyền thông. Cùng với khuôn mặt của nàng là sự lặp đi lặp lại của tất cả các giai thoại về nụ cười, sức mạnh siêu nhiên của nàng, v.v…

Đến đây, ta có thể trở lại với Hekking Mona Lisa.

Để chống cho tuyên bố của mình được vững, Hekking đã đem nàng Mona Lisa của mình đến gặp nhà sử học nghệ thuật nổi tiếng Max Jacob Friedländer. Mặc dù thực tế rằng chuyên môn của Friedländer chỉ là là về trường phái tranh Flemish (các khu vực miền Low Lands hay Low Countries – Hòa lan và Bỉ ngày nay) lan trong các thế kỷ ١٥ đến ١٧, và sự nghiệp của ông này đã gần kết thúc, Friedländer cho rằng bức tranh của Hekking có thể là …Mona Lisa. Điều này đã thúc đẩy Hekking tiếp tục.

Là người có nghề trong lãnh vực quảng bá, Hekking đã làm cả một cuốn phim. Trong phim có cảnh ông xem xét bức tranh, mời các chuyên gia đến để cùng xem xét trong khung cảnh hoang tàn của ngôi nhà của ông ta ở làng Magagnosc, gần Grasse. Ông tung ra cuốn phim này đúng vào thời điểm viện bảo tàng Louvre gửi nàng Mona Lisa đến Washington DC để triển lãm.

Dịp đó là tháng 1 năm 1963, Mona Lisa đã đến Hoa Kỳ để được triển lãm ở Washington DC và thành phố New York. Đệ nhất phu nhân Jackie Kennedy đã làm môi giới cho thỏa thuận này năm 1961 và sự chú ý của giới truyền thông đối với bức tranh Mona Lisa trước chuyến công du nước Mỹ của nó đã lên đến đỉnh điểm.

Kết quả là mặc dù khó tin, thuyết mà Hekking đưa ra đã được cộng đồng lịch sử nghệ thuật xem xét một cách nghiêm túc.

Với cái huyền thoại mà Hekking xây dựng, bức Hekking Mona Lisa như thế, theo Pierre Etienne, giám đốc chuyên về Tranh Sơn dầu cổ của nhà Christie’s có thể sẽ được giá cao hơn cái giá ước định.

(Cuộc đấu giá sẽ kết thúc ngày 18 tháng này, nếu bạn muốn xin nhanh tay. Lên mạng, vào địa chỉ onlineonly.christies.com/s/hekking-mona-lisa/ecole-italienne-du-debut-du-xviie-siecle-suiveur-de-leonard-de-vinci-1/121283)

Bỏ giá để mua và chờ đợi cho đến cái ngày mà bức tranh mình sở hữu được xác nhận là đổ thật.

Hoặc chờ thêm ít lâu, khi mọi thứ đã “mở lại” lúc Covid-19 bị đẩy lui, để lang thang đến các điểm bán garage sale. Thiên hạ đang nóng lòng chờ đến ngày đó để thải đi những món đã muốn thải từ lâu mà không được cộng với những món vừa mua “online” trong thời gian đại dịch. Thế nào cũng gặp một nàng Mona Lisa.

Lúc đó, mấy trăm ngàn Euro mà nhân vật này đã đầu tư sẽ đẻ ra không biết bao nhiêu là lãi.

Biết đâu. Đầu tư vào câu chuyện giả mà thật này vẫn còn có thể có lời hơn câu chuyện sắp được kể sau đây: Bỏ hàng chục ngàn để làm chủ một tác phẩm – lại chuyện nghệ thuật, không ai trông thấy!

Không những thế, sau khi mua lại còn phải chi thêm không ít tiền để xây chỗ cất cho xứng hợp.

Chuyện đó xảy ra …cũng ở Ý, trung tâm của văn minh và nghệ thuật Âu châu -và cả thế giới.

Tháng 5 vừa rồi, nhà nghệ sĩ Ý Salvatore Garau đã đem đấu giá, và đã bán được tác phẩm điêu khắc “phi vật chất” của mình qua nhà đấu giá Art-Rite ở Ý với giá 15 ngàn Euro (hơn 18 ngàn đô Mỹ).

Khác với những tác phẩm điêu khắc, thường phải làm bằng gỗ, đất, đá, kim loại, thủy tinh, v.v… “bức điêu khắc” của ông Garau được làm bằng…không khí vì nó phi vật chất.

Tác giả đặt cho tác phẩm của mình cái tên lo sono (tiếng Ý) có nghĩa là Je suis, tiếng Pháp, có thể hiểu là “tôi hiện hữu”, như câu nói của triết gia Descartes: “Je pense donc je suis”).

Ông giải thích rằng «Đó là một tác phẩm đòi hỏi bạn phải dùng đến sức mạnh của trí tưởng tượng…»

Tác phẩm của ông “tìm thấy hình dạng của nó trong cái hư vô của chính nó.” Garau nói với hãng tin Diario AS của Tây Ban Nha rằng: “Chân không chỉ là một không gian chứa đầy năng lượng, và ngay cả khi chúng ta làm trống nó và không còn gì, theo nguyên lý bất định Heisenberg, thì không có gì có trọng lượng cả. Do đó, nó có năng lượng được ngưng tụ và chuyển hóa thành các hạt, tức là thành chúng ta.”

(Đương nhiên là người kể chuyện này chẳng hiểu gì cả.)

Garau nói: “Khi tôi quyết định ‘trưng bày’ một tác phẩm điêu khắc phi vật chất trong một không gian nhất định, không gian đó sẽ tập trung một lượng và mật độ tư duy nhất định vào một điểm chính xác, tạo ra một tác phẩm điêu khắc, từ tên đặt của tôi, sẽ chỉ có những hình thức đa dạng nhất.” (Cũng không hiểu luôn – chú thích của người kể chuyện).

Giá khởi điểm khi bắt đầu đấu là 6 ngàn Euro, nhưng những người dự đấu giá đã đẩy giá lên đến 15 ngàn và người may mắn mua được đã cầm tay một giấy chứng nhận là của thật (certificate of authenticity) kèm theo bản hướng dẫn.

Trong bản hướng dẫn, điêu khắc gia dặn rằng tác phẩm phải được trưng bày trong một cái khuôn riêng có không gian mỗi bề 5 bộ Anh (5’x 5’ x 5’) không có chướng ngại.

Nhà nghệ sĩ còn nói thêm – đoạn này mới đáng suy nghĩ: “Có phải là chúng ta đã không định hình một Thượng đế mà chúng ta chưa hề trông thấy hay sao?”

Đỗ Quân

Tin tức khác...